Seri SP loại 5 inch
Bơm chìm giếng khoan seri SP năm inch
Cỡ năm inch nằm giữa nhóm bốn inch dân dụng và nhóm sáu inch công nghiệp. Đo trên chính danh mục này, dải công suất các model đang bán trải từ 5,5 kW tới 7,5 kW. Đây là nhóm dành cho giếng chống bằng ống phi một trăm sáu mươi, thường gặp ở trại chăn nuôi, trang trại tưới, xưởng sản xuất vừa và trạm cấp nước quy mô nhỏ.
Khi nào nên chọn cỡ năm inch
Trường hợp thứ nhất là giếng đã khoan sẵn với ống phi một trăm sáu mươi. Khi đó cỡ năm inch là lựa chọn tự nhiên: thả lọt, còn khe hở làm mát, và tận dụng được lòng giếng rộng để lấy lưu lượng khá hơn máy bốn inch.
Trường hợp thứ hai là nhu cầu nước vượt khả năng của nhóm bốn inch nhưng chưa tới mức phải khoan giếng công nghiệp. Thay vì lắp hai máy bốn inch ở hai giếng, một máy năm inch trên một giếng thường gọn hơn về vận hành, về tủ điện và về công bảo dưỡng.
Ngược lại, nếu giếng chỉ là ống phi một trăm mười thì không có cách nào dùng được cỡ năm inch; phải hoặc chấp nhận nhóm bốn inch, hoặc khoan giếng mới lòng rộng hơn.
Vì sao seri SP bơm được nước có cát
Điểm khác biệt nằm ở vật liệu cánh. Seri SP dùng cánh và buồng cánh bằng thép không gỉ dập, cứng hơn nhiều so với cánh nhựa của seri SA. Hạt cát đi qua vẫn mài, nhưng bề mặt thép chịu được lâu hơn hẳn, nên máy giữ được lưu lượng qua nhiều mùa khai thác thay vì tụt sau vài tháng.
Cách chọn giữa hai seri rất đơn giản: bơm nước vào một xô sạch, để lắng nửa giờ rồi nhìn đáy xô. Có lớp cát mịn, dù mỏng, thì lấy seri SP. Nước trong hoàn toàn và giếng đã ổn định nhiều năm thì seri SA đủ dùng. Giếng mới khoan nên mặc định coi là có cát cho tới khi thổi rửa xong và kiểm tra lại.
Đo mực nước động trước khi tính cột áp
Mực nước động là mực nước khi máy đang bơm liên tục, luôn thấp hơn mực nước lúc giếng nghỉ. Cách đo là cho bơm chạy một lúc cho mực nước ổn định rồi thả dây đo. Lấy nhầm mực nước tĩnh là nguyên nhân quen thuộc khiến máy mua về thiếu cột áp, nước lên yếu rồi bị quy oan là máy kém.
Cột áp cần bằng độ sâu mực nước động cộng chiều cao từ miệng giếng lên bể chứa cộng tổn thất ma sát dọc đường ống. Trong cùng một seri, các model khác nhau ở số tầng cánh: nhiều tầng thì đẩy cao mà lưu lượng vừa, ít tầng thì lưu lượng lớn mà đẩy thấp.
Nguồn điện và tủ điện
Ở cấp công suất này, máy thường là điện ba pha. Tủ điện cần bảo vệ mất pha và lệch pha, vì máy ba pha mất một pha mà vẫn chạy là kịch bản làm cháy cuộn dây nhanh nhất. Bảo vệ quá dòng và bảo vệ chạy cạn cũng bắt buộc.
Nếu lưới điện tại chỗ yếu hoặc tuyến dây dài, nên cân nhắc khởi động mềm để giảm dòng khởi động, tránh sụt áp làm ảnh hưởng các thiết bị khác trong trại hoặc trong xưởng. Tiết diện cáp cũng phải tính theo chiều dài tuyến; cáp thiếu tiết diện làm máy chạy ở điện áp thấp, dòng tăng và cuộn dây nóng.
Thả máy, đấu điện và bảo vệ
Thổi rửa giếng cho hết cặn khoan trước khi thả. Treo máy bằng dây chịu lực riêng, đặt dưới mực nước động và cách đáy giếng một khoảng để không hút phải bùn lắng; không để trọng lượng máy dồn lên ống nước hay lên cáp điện.
Cáp điện phải là loại cáp chìm chuyên dụng, mối nối bọc kín bằng ống co nhiệt hoặc măng sông đổ nhựa. Mối nối quấn băng dính sẽ ngấm nước và gây chạm chập trong vài tuần, khi đó phải kéo cả cụm máy lên chỉ để sửa một chỗ nối.
Tủ điện trên miệng giếng cần aptomat, bảo vệ quá dòng, bảo vệ mất pha với máy ba pha và bảo vệ chạy cạn. Chạy cạn là nguyên nhân cháy động cơ chìm nhiều hơn cả vì động cơ mất môi trường làm mát.
Bài toán khí: áp và lưu lượng, không phải công suất
Sai lầm phổ biến khi mua thiết bị khí là chọn theo số kilôoát. Thứ quyết định máy có làm được việc hay không là hai đại lượng khác: áp làm việc và lưu lượng gió. Áp phải thắng được cột nước đè lên đầu phân phối khí cộng tổn thất trên tuyến ống; lưu lượng phải đủ cho thể tích bể và cho yêu cầu của quá trình xử lý.
Chọn thừa áp thì van an toàn xả liên tục, tiền điện biến thành tiếng ồn. Chọn thiếu áp thì máy chạy suốt mà bọt khí gần như không ra khỏi đầu phân phối. Vì vậy khi anh chị gọi, việc đầu tiên nhân viên hỏi là độ sâu ngập của đầu phân phối, thể tích bể, chiều dài và đường kính tuyến ống dẫn khí, chứ không phải hỏi muốn máy mấy kilôoát.
Nhân viên phụ trách và cách đặt hàng
Nhân viên phụ trách nhóm hàng này là Trường, hotline 0373 624 682. Anh chị gửi trước hiện trạng công trình; nếu chưa đo được thông số thì mô tả bể và quá trình đang dùng, nhân viên ước lượng giúp rồi đề xuất vài phương án để so sánh.
Công ty Trung Kiên nhập khẩu trực tiếp và giữ hàng tại kho Hà Nội cùng kho TP. Hồ Chí Minh, giao trong ngày tại hai thành phố và gửi nhà xe hoặc chuyển phát về các tỉnh. Sau khi giao máy, thợ tại công trình gặp vướng khi đấu điện, khi chỉnh van hay khi máy chạy không như mong đợi đều gọi hỏi được; công ty hướng dẫn kiểm tra theo từng bước để khoanh vùng nguyên nhân trước khi tháo máy.
Bảo hành, phụ tùng và chứng từ
Thời gian bảo hành theo xuất xứ: hàng Đài Loan, Trung Quốc và Ấn Độ bảo hành mười hai tháng; hàng Ý bảo hành hai mươi bốn tháng. Bảo hành tính từ ngày xuất hoá đơn và tra theo số seri trên thân máy, nên mất phiếu giấy vẫn tra được lịch sử máy.
Kho giữ sẵn phụ tùng thay thế cho các dòng đang bán: lọc gió, gioăng, vòng bi, dây đai, phớt, cánh và tụ điện. Thiết bị hết hạn bảo hành vẫn sửa được thay vì phải bỏ. Khách hàng doanh nghiệp lấy hoá đơn VAT xuất cùng ngày giao hàng, ghi đúng tên model và số seri để tiện hạch toán và đưa vào danh mục tài sản.
- Lưu Lượng: 40 m³/h Cột Áp: 88 m
- Lưu Lượng: 40 m³/h Cột Áp: 66 m
