Cập nhật:

Tính chọn máy thổi khí cho bể xử lý nước thải gồm hai việc: biết bể cần bao nhiêu khí mỗi giờ và máy phải thổi ở áp làm việc bao nhiêu. Áp làm việc bằng áp cột nước trên đĩa cộng tổn thất qua đĩa, ống, van. Có cặp số này mới đem so với lưu lượng của từng mã tại đúng áp đó, rồi chốt máy chính và máy dự phòng.

Máy thổi khí con sò Perotac hai tầng cánh cho bể xử lý
Máy thổi khí con sò Perotac hai tầng cánh
Mục lục
  1. Bước 1: lượng khí bể cần lấy từ đâu?
  2. Bước 2: áp làm việc gồm những phần nào?
  3. Bước 3: so cặp số với từng mã thế nào?
  4. Bước 4: chốt máy dự phòng và số liệu nghiệm thu
  5. Mã đối chiếu khi bể cần áp cao
  6. Câu hỏi thường gặp
  7. Liên hệ chọn máy thổi khí

Bước 1: lượng khí bể cần lấy từ đâu?

Lượng khí cấp cho bể hiếu khí phụ thuộc lượng chất hữu cơ vi sinh phải xử lý, tức phụ thuộc lưu lượng và độ bẩn của nước thải vào trạm. Con số này nằm trong hồ sơ thiết kế của trạm; nếu trạm đang chạy thì đơn vị vận hành thường đã có. Không nên lấy lượng khí theo “máy cũ đang dùng mấy kW”, vì máy cũ có thể đang thiếu hoặc thừa khí.

Nếu cấp khí qua đĩa bọt mịn, số đĩa cũng ràng buộc lượng khí. Lưu lượng thiết kế và diện tích phục vụ của mỗi đĩa bọt mịn theo thông số nhà sản xuất đĩa, nên tổng khí cấp phải nằm trong dải mà dàn đĩa đã lắp nhận được.

Bước 2: áp làm việc gồm những phần nào?

Máy phải thắng áp cột nước phía trên mặt đĩa; bể càng sâu, đĩa đặt càng sâu thì phần này càng lớn. Cộng thêm tổn thất qua màng đĩa (theo thông số nhà sản xuất đĩa), qua đường ống, co, van một chiều và van chặn. Tổng các phần này là áp làm việc mà máy phải giữ suốt thời gian chạy.

Màng đĩa bám cặn theo thời gian làm tổn thất tăng dần, nên áp làm việc thực tế sau một thời gian vận hành thường cao hơn lúc mới lắp. Đây là lý do không chọn máy có áp tối đa chỉ vừa sát áp làm việc tính ra.

Cần tư vấn chọn máy cho đúng việc? Gọi hoặc nhắn Zalo 0373 624 682 để được hỗ trợ.

Bước 3: so cặp số với từng mã thế nào?

Lưu lượng tối đa và áp tối đa ghi cho mỗi mã con sò là hai giới hạn riêng: lưu lượng tối đa đạt được khi áp gần bằng không, còn ở áp tối đa thì lưu lượng gần như không còn. Phải tra lưu lượng tại đúng áp làm việc của bể trên đường đặc tính của mã đó.

Đầu thổi Root được ghi theo từng điểm áp ở một tốc độ quay. Ví dụ đầu thổi Perotac RL65 ở 1.000 vòng/phút cho 2,63 m³/phút tại 9,8 kPa và 1,89 m³/phút tại 58,8 kPa; công suất yêu cầu tương ứng là 1,14 kW và 3,83 kW. Động cơ, buli và điện áp của bộ máy Root được chốt theo điểm làm việc và báo giá.

Bước 4: chốt máy dự phòng và số liệu nghiệm thu

Bể hiếu khí cần cấp khí liên tục, nên trạm thường đặt hai máy cùng mã để luân phiên: một máy dừng bảo dưỡng thì máy kia vẫn cấp khí. Hai máy cùng mã còn giúp việc chia nhánh và chỉnh van không phải làm lại khi đổi máy.

Khi chạy thử, ghi lại áp trên đồng hồ, dòng điện từng pha và tiếng máy ở điểm làm việc. Đây là mốc để so trong vận hành: dòng điện tăng dần, áp tăng dần hay van an toàn bắt đầu xả đều là dấu hiệu cần kiểm đĩa, ống, van trước khi máy hỏng.

Mã đối chiếu khi bể cần áp cao

  • Perotac GB-4000S/2: hai tầng cánh, 3 pha 380 V, 4 kW, lưu lượng khí tối đa 325 m³/h, áp thổi tối đa 57 kPa.
  • Perotac GB-5500S/2: hai tầng cánh, 3 pha 380 V, 5,5 kW, lưu lượng khí tối đa 325 m³/h, áp thổi tối đa 63 kPa.
  • Perotac RL65: đầu thổi Root cỡ 65 mm; ở 1.000 vòng/phút cho 2,63 m³/phút tại 9,8 kPa và 1,89 m³/phút tại 58,8 kPa.
  • Perotac RL80: đầu thổi Root cỡ 80 mm; ở 1.000 vòng/phút cho 4,21 m³/phút tại 9,8 kPa và 2,82 m³/phút tại 58,8 kPa.

Các mã trên là hàng Perotac xuất xứ Đài Loan, bảo hành 1 năm. Xem thêm máy sục khí Root Perotac và bài lắp đặt máy thổi khí.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ biết thể tích bể thì chọn được máy chưa?

Chưa. Cần thêm lượng khí bể cần mỗi giờ và độ sâu đặt đĩa. Thể tích chỉ là một phần đầu vào của phép tính lượng khí.

Vì sao không lấy lưu lượng tối đa để so với nhu cầu bể?

Vì lưu lượng tối đa chỉ đạt khi áp gần bằng không. Đĩa ngập trong nước thì máy luôn làm việc ở áp cao hơn, lưu lượng thực thấp hơn số tối đa.

Máy dự phòng có cần cùng mã với máy chính không?

Nên cùng mã để lưu lượng và áp khi đổi máy giống nhau, các van nhánh đã chỉnh không phải chỉnh lại.

Chạy một thời gian thấy áp tăng là do đâu?

Thường do màng đĩa bám cặn hoặc đường ống, van bị nghẹt một phần. Kiểm dàn đĩa và van trước, không vặn tăng ngưỡng van an toàn để máy hết xả.

Liên hệ chọn máy thổi khí

Gửi thông số bể để được tính chọn máy thổi khí. Công ty Trung Kiên — Hotline 0373.624.682 (Trường). VP Hà Nội: Ngõ 196 Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội. VP HCM: 484/5 Khu phố 62, Phường An Phú Đông, TP.HCM. Hàng sẵn 2 kho HN & HCM, giao toàn quốc.

Tư vấn qua Zalo Hotline:0373624682