Giàn đĩa phân phối khí nằm dưới đáy bể, ngập trong nước thải, và mỗi lần muốn xem lại nó thì phải rút bể. Vì vậy những gì kiểm được trước khi thả xuống có giá trị lớn hơn nhiều lần so với công sức bỏ ra — sai một chi tiết ở bước này thì cái giá phải trả là một lần rút bể.

Danh mục kiểm trước khi thả
| # | Mục | Đạt khi |
|---|---|---|
| 1 | Đáy bể sạch cặn và vật lạ | Đã vệ sinh, không còn vật cứng |
| 2 | Độ phẳng đáy bể tại vùng đặt giàn | Chênh cao trong dung sai cho phép |
| 3 | Giàn đỡ chắc, không cong vênh | Đặt thử trên mặt bằng thấy phẳng |
| 4 | Cao độ các đĩa bằng nhau | Đo từng đĩa so với một mặt chuẩn |
| 5 | Đĩa lắp đủ chặt, gioăng đúng vị trí | Kiểm từng cái bằng tay |
| 6 | Ống nhánh không bị bẹp, không nứt | Kiểm toàn tuyến |
| 7 | Neo giàn xuống đáy | Đủ điểm neo, không để giàn nổi |
| 8 | Thử kín bằng khí trên cạn | Không rò tại mối nối |
| 9 | Thử phân phối khí trên cạn hoặc nước nông | Các đĩa ra khí đều |
| 10 | Đường khí xuống bể có xả nước ngưng | Có điểm xả tại chỗ thấp |
Mục 4 là mục quyết định. Đĩa cao hơn thì chịu ít cột nước hơn nên ra nhiều khí hơn, đĩa thấp hơn thì ngược lại. Chênh cao nhỏ giữa các đĩa cũng đủ làm khí phân phối lệch rõ rệt.
⚠️ Điều kiện dừng
Không thả giàn xuống khi chưa thử kín và chưa thử phân phối trên cạn. Một mối nối rò dưới đáy bể không sửa được nếu không rút bể, và nó lấy đi lượng khí đáng kể mà không có dấu hiệu nào ngoài việc bọt nổi tập trung một chỗ.
Vì sao độ phẳng quan trọng hơn người ta nghĩ
Khí đi theo đường ít cản nhất. Trong một giàn đĩa:
- Đĩa nào ngập nông hơn thì cần ít áp hơn để ra khí, nên ra nhiều hơn.
- Đĩa ra nhiều khí hơn làm áp trong nhánh giảm, các đĩa còn lại ra ít hơn nữa.
- Kết quả là vùng sục mạnh và vùng gần như không sục, dù tổng lưu lượng khí vào bể không đổi.
Vùng không được sục là vùng lắng cặn và là vùng vi sinh làm việc kém. Đây là lý do bể có đủ khí trên giấy nhưng vẫn xử lý không đạt.
Đo cao độ đĩa: cách làm thực tế
- Chọn một mặt chuẩn ổn định, ví dụ mép trên thành bể.
- Đo từ mặt chuẩn xuống mặt trên của từng đĩa, ghi lại từng số.
- Tính chênh lệch giữa đĩa cao nhất và thấp nhất.
- So với dung sai cho phép ghi trong hướng dẫn của loại đĩa.
- Chỉnh giàn đỡ cho tới khi đạt, chỉnh bằng cách kê chứ không bằng cách uốn ống.
- Đo lại sau khi chỉnh và ghi vào hồ sơ.
Bước 5 có một cái bẫy: uốn ống nhánh để ép đĩa xuống đúng cao độ sẽ tạo ứng suất trong ống, và ống sẽ nứt sau một thời gian ngâm nước và chịu nhiệt.
Neo giàn: vì sao không được bỏ
Giàn đĩa rỗng, và khi có khí trong ống thì nó nổi. Lực đẩy nổi đủ lớn để:
- Nhấc cả giàn lên nếu không neo.
- Làm lệch cao độ nếu neo không đều.
- Kéo đứt mối nối với đường khí xuống.
Neo phải đủ số điểm, phân bố đều, và dùng vật liệu chịu được môi trường trong bể. Neo bằng vật liệu bị ăn mòn là quả bom hẹn giờ: nó giữ được vài năm rồi đứt, và lúc đó giàn nổi lên cùng lúc nhiều điểm.
Thử trên cạn: hai phép thử đáng làm
Thử kín: cấp khí áp thấp vào giàn, bôi nước xà phòng lên các mối nối, tìm bọt. Đơn giản, nhanh, và bắt được gần hết các mối rò.
Thử phân phối: đặt giàn trong nước nông, cấp khí, quan sát bọt nổi. Đĩa nào ra yếu hoặc không ra thì kiểm lại ngay. Phép thử này không thay được điều kiện thực trong bể sâu, nhưng nó bắt được các lỗi lắp ráp rõ ràng.
Hồ sơ cần ghi trước khi thả
| Mục | Ghi gì |
|---|---|
| Loại đĩa và số lượng | Model, số cái, ngày sản xuất nếu có |
| Sơ đồ bố trí giàn | Vị trí từng nhánh trong bể |
| Cao độ đo được của từng đĩa | Bảng số, kèm mặt chuẩn đã dùng |
| Kết quả thử kín | Đạt hay có điểm phải sửa |
| Kết quả thử phân phối | Mô tả hoặc ảnh |
| Điểm neo | Số lượng, vị trí, vật liệu |
| Ngày lắp và người thực hiện | Để truy lại về sau |
Sơ đồ bố trí là tài liệu quý nhất: nhiều năm sau, khi bọt nổi lệch, nó cho biết vùng bất thường ứng với nhánh nào.
Ví dụ có ghi rõ giả định
Giả định: bể mới lắp giàn đĩa, khi chạy thấy bọt nổi mạnh ở một góc bể còn góc đối diện gần như phẳng lặng, tổng lưu lượng khí của máy vẫn đúng thiết kế.
Cách đọc: tổng khí đủ mà phân phối lệch thì vấn đề nằm ở giàn chứ không ở máy. Ba hướng nghi theo thứ tự: cao độ các đĩa không đều, một nhánh bị rò ở mối nối, hoặc van cân nhánh bị đặt lệch. Nếu có hồ sơ cao độ đo lúc lắp thì loại trừ được hướng thứ nhất ngay mà không phải rút bể. Tình huống là giả định để minh hoạ, không phải trường hợp của công trình bạn.

Câu hỏi hay gặp
Đĩa tinh và đĩa thô lắp chung trong một bể được không? Được trong một số thiết kế, nhưng chúng có tổn thất khác nhau nên phải đi trên nhánh riêng có van cân riêng, không chung một nhánh.
Bao lâu thì phải rút bể kiểm giàn đĩa? Không có con số chung. Nên theo dõi bằng áp suất đẩy của máy và bằng hình ảnh bọt nổi; khi hai chỉ dấu đó lệch rõ so với mốc ban đầu thì mới tính tới việc rút bể.
Có thể thay đĩa mà không rút hết bể không? Một số thiết kế giàn có thể nâng từng nhánh lên, nhưng phần lớn phải rút bể. Đây là điểm nên hỏi rõ ngay từ khi chọn giàn.
Cần hỗ trợ
Gửi: kích thước bể và độ sâu nước, loại và số lượng đĩa, sơ đồ bố trí giàn dự kiến, ảnh đáy bể và giàn đỡ, lưu lượng khí thiết kế, nhãn máy thổi khí. Bộ phận kỹ thuật soát danh mục kiểm và chỉ ra mục nào cần xử lý trước khi thả giàn.
Xem dải máy tại máy thổi khí và máy khuấy chìm.
Liên hệ: Trường — 0373624682 (gọi hoặc Zalo cùng số). Công ty TNHH Thương mại và Công nghiệp Trung Kiên.
